Xã Thạch Đỉnh là một trong 10 xã vùng biển ngang huyện Thạch Hà. Phía bắc giáp xã Thạch Bàn, phía Nam giáp xã Thạch Khê, phía tây giáp xã Hộ Độ, huyện Lộc Hà và xã Thạch Môn, phía đông giáp xã Thạch Hải.

Thạch Đỉnh là tên hành chính mới được thành lập từ năm 1954 nhưng vùng đất này thì đã có từ lâu gồm lãnh thổ của nhiều địa phương gộp lại. Đó là một phần lãnh thổ các xã Đình Hòe, Kiều Mộc, Đạm Thủy. Nói là một phần lãnh thổ vì các thôn xã trên cũng có một phần thuộc xã Thạch Bàn hiện nay. Chỉ riêng xã Kiều Mộc đã  chia thành 3 nơi: thôn Trản Nội sau năm 1954 thuộc xã Thạch Khê, còn các thôn xóm khác lại thuộc cả 2 xã Thạch Đỉnh và Thạch Bàn hiện nay.

Các xã Kiều Mộc, Đình Hòe, Đạm Thủy trước cách mạng tháng 8-1945 đều thuộc tổng Hạ Nhị, phủ Thạch Hà, có tư cách pháp nhân, có triện lý trưởng riêng (tức con dấu).

Kiều Mộc ngày xưa gọi là Hoa Mộc. Làng/ xã này xưa kia thờ Hồ Nhị Lang làm Thành Hoàng. Hồ Nhị Lang đã đưa dân từ Quỳnh Đôi vào đây khai khẩn lập ra vùng đất Hoa Mộc này. Không rõ tên thật của ông, chỉ biết nhân dân thường gọi ông là Hồ Nhị Lang. Tại đây còn đền thờ Hồ Nhị Lang. Cũng không rõ Hồ Nhị Lang có phải là thân sinh của Tiến sĩ Hồ Khước không? Đền thờ Hồ Khước đã được Nhà nước xếp hạng Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh.

Thiệu Trị năm đầu (1841) vì kỵ húy tên mẹ Thiệu Trị là Hồ Thị Hoa nên Hoa Mộc đổi thành Kiều Mộc. Cũng năm đó thôn Hoa Viên đổi thành thôn Kiều Viên.

Cộng đồng cư dân Thạch Đỉnh gồm người gốc bản địa và người dân vạn chài Kỳ Xuyên, Lạc Thủy sinh sống tại đây lâu đời đã hoàn toàn bản địa hóa. Thời xưa người vạn Kỳ Xuyên và vạn Lạc Thủy chuyên làm nghề đánh bắt cá trên sông Rào Cái và ở Cửa Sót. Họ làm nghề đóng đăng đáy (thường gọi là nốc đáy) và câu cá (thường gọi nốc câu). Sau cách mạng tháng 8-1945 dân Kỳ Xuyên – Lạc Thủy lên ở đất liền, sản xuất nông nghiệp như nông dân. Tuy vậy, một bộ phận Kỳ Xuyên vẫn làm nghề đóng đăng đáy.

Thạch Đỉnh là vùng đất có nhiều thắng cảnh, nhiều di tích lịch sử. Đó là Nam Giới (thường gọi Rú Bể), và Mộc Sơn (tức Rú Mốc).

Mùa hè, dân các địa phương vùng tổng Hạ Nhất, Hạ Nhị nhìn lên Rú Bể thấy mây vùn vụ thì biết thế nào trời cũng mưa

“Bao giời Rú Bể mang tơi,

Rú Hống đội mạo thì trời sắp mưa.”

Nam Giới tức Quỳnh Viên là một danh thắng nổi tiếng khắp vùng Hoan Châu – xứ Nghệ.

Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) trong bài thơ “Nam Giới hải môn” (Cửa bể Nam Giới) làm năm Hồng Đức thứ nhất (1470) sau chiến thắng bình Chiêm trở về qua đây ca ngợi cảnh đẹp có câu “Danh sơn do thuyết cổ Quỳnh Viên”. Quỳnh Viên có đỉnh Long Ngâm, có suối Hiêu Hiêu, có bàn cờ tiên, có truyền thuyết Chử Đồng Tử và nàng Tiên Dung, đặc biệt có đền thờ Chiêu Trưng Võ mục vương Lê Khôi là một vị anh hùng dân tộc ở thế kỷ 15. Trong bài thơ “Vịnh núi Nam Giới” của thầy giáo Trần Hưng dạy học ở Kiều Mộc khoảng 1927-1930 có câu:

“Sự nghiệp Chiêu Trưng bia đá tạc

 Cơ đồ Đồng Tử cỏ phong rêu”

Thầy giáo Trần Hưng là một chiến sĩ cộng sản, là xứ ủy viên Trung Kỳ về Kiều Mộc dạy học bắt nối và hoạt động thành lập hai chi bộ Đảng ở Phong Phú và Kiều Mộc năm 1930.

Từ năm 907 khi nước ta còn gọi là An Nam đô hộ phủ nội thuộc Đường triều (Trung Quốc) thì quân Lâm Ấp tức sau này đổi là Chiêm Thành đã chiếm lấy vùng đất từ Quỳnh Viên vào Hoành Sơn (Đèo Ngang) nên Quỳnh Viên trở thành mốc biên giới giữa An Nam đô hộ phủ (tức Đại Việt – Việt Nam) và Lâm Ấp (Chiêm Thành). Từ đó Quỳnh Viên được gọi là Nam Giới.

Mộc Sơn (tên nôm là Rú Mốc) thuộc thôn Văn Sơn xã Hoa Mộc xưa (tức Kiều Mộc) cũng là mốc giới giữa Lâm Ấp (Chiêm Thành) và Đại Việt (Việt Nam) nên núi mới có tên là Rú Mốc.

Lâm Ấp (tức Chiêm Thành) chiếm đóng vùng đất từ Nam Giới – Mộc Sơn vào tận Hoành Sơn (Đèo Ngang) hon 70 năm (907-982). Đến năm Nhâm ngọ (982) vua Lê Đại Hành mới đánh đuổi Chiêm Thành sang bên kia Đèo Ngang, giải phóng vùng đất từ Thạch Hà vào tận Hoành Sơn. Từ đó vùng đất này mới vĩnh viễn trở về với Đại Việt (Việt Nam).

Thơ ca ngợi cảnh đẹp hùng vĩ Nam Giới và cửa biên Nam Giới có nhiều như bài thơ “Nam Giới hải môn” của vua Lê Thánh tông (sáng tác năm 1470), “Vịnh Nam Giới” của thầy giáo Trần Hưng, “Cảm tác từ biệt Nam Giới” của nhà nho Trịnh Hồng Dực (sáng tác 1927-1930) v.v… Tất cả những bài thơ đó đều chứa chan lòng yêu nước.

Đất Hoa Mộc (Kiều Mộc), Đình Hòe, Đạm Thủy xưa có nhiều đền chùa miếu mão ghi đậm dấu ấn một vùng  lịch sử văn hóa tâm linh của làng xã.

Trước hết là đền Chiêu Trưng thờ anh hùng dân tộc Lê Khôi. Đền được các triều đình phong kiến xếp vào hàng “quốc tế’ (cả nước tế lễ). Đền Chiêu Trưng là một trong 4 ngôi đền lớn ở xứ Nghệ: đền Cờn, đền Cả, Bạch Mã, Chiêu Trưng.

Lê Khôi gọi Lê Lợi bằng chú ruột. Lê Khôi là con Lê Trừ, anh trai của Lê Lợi. Ông cùng với nhiều danh tướng khác như Đinh Lễ, Đinh Liệt, Nguyễn Xí, Bùi Bị v.v… đã giúp Bình Định  vương Lê Lợi đánh thắng giặc Minh giải phóng đất nước. Lại giúp triều Lê dẹp nạn ngoại xâm ở phía nam Đại Việt, đánh đuổi Chiêm Thành, không để họ dám dòm ngó đến Đại Việt nữa.

Năm Bính dần (1446) trên đường bình Chiêm chiến thắng trở về, ông bị  bệnh mất tại Nam Giới. Triều Lê lệnh cho dân Hoan Châu lập đền thờ ông trên núi Nam Giới. Vua Lê Thánh Tông (1460-1497) làm thơ ca ngợi Lê Khôi là bậc lương đống triều đình, rường cột nước nhà không dễ có mấy ai thay thế:

“Thương ít, tiếc nhiều bao xiết kể,

Miếu đường hồ dễ cột nào thay.”

Sau đó triều Lê lại sai Hoàng giáp Nguyễn Như Đỗ viết văn bia ghi công trạng của ông. Hiện tấm bia đá khắc thơ của vua Lê Thánh Tông và  tấm bia khắc bài văn của Nguyễn Như Đỗ vẫn còn trên núi Nam Giới. Lê Khôi được triều Lê truy phong Chiêu Trưng Võ Mục Đại Vương.

Ngoài Đền Chiêu Trưng, ở Đạm Thủy có đền thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh Công Chúa còn gọi là Mẫu Liễu là vị thiên thần được nhân dân xếp vào hàng tứ bất tử gồm Thánh Gióng, Thánh Tản Viên, Thánh Mẫu (tức Mẫu Liễu) và Chử Đồng Tử.

Ở thôn Văn Sơn có đền Tam Tòa thờ Uy Minh vương Lý Nhật Quang. Ông là Hoàng Tử thứ 8 của vua Lý Thái Tổ. Ông được vua anh là Lý Thái Tông (Phật Mã) (1028-1054) cử vào làm Tri châu Nghệ An năm Tân tỵ (1041). Lý Nhật Quang đã đem theo dân phiêu tán ở đồng bằng sông Hồng vào xứ Nghệ lập ra hơn 100 làng ven biển từ Quỳnh Lưu vào Đèo Ngang, trong số đó có các làng xã vùng biển ngang Thạch Hà. Các làng xã ven biển xứ Nghệ chịu ân sâu của ông và lập đền Tam Tòa để thờ ông. Ngoài đền Tam Tòa thờ Uy Minh vương Lý Nhật Quang, ở thôn Văn Sơn còn có đền thờ Thánh Cao tức thần Cao Sơn, Cao Các Mạc Sơn vương. Cao Sơn là Thành Hoàng thôn Văn Sơn.

Ở Đình Hòe có một ngôi đền gọi là đền Đình Hòe (còn gọi là đền Quan Lớn) không rõ thờ vị thần nào. Ngoài ra có đền thờ Đức Thánh Tương Bình, trong đền còn lưu giữ 7 đạo sắc do các triều đại phong kiến ban cho thần.

Ngoài các đền kể trên vùng đất này còn những đền miếu khác như Miệu Trửa, Miệu Vua v.v…

Tại đây có hai ngôi chùa làng chùa Văn Sơn (tên Nôm là chùa Mốc) dựng trên Rú Mốc và chùa Kiều Mộc. chùa được dựng vào năm 1870.

Đó là những dấu tích di sản văn hóa vật thể còn lại trên địa phương Đình Hòe – Kiều Mộc – Đạm Thủy, trong đó phần lớn thuộc lãnh thổ xã Thạch Đỉnh ngày nay.

Di sản văn hóa tinh thần phong phú đa dạng với những trò chơi dân gian đánh đu, cướp cù, hò, ví dặm, hát đối đáp làm cho đời sống tinh thần làng xóm luôn rộn ràng vui tươi.

Là một nơi xa xôi hẻo lánh thời phong kiến ít có điều kiện giao lưu tiếp xúc với các vùng văn hóa khác những Kiều Mộc – Đình Hòe – Đạm Thủy cũng có phong trào học hành đáng ghi nhận. Thời Hán học, nhiều làng xóm có lớp học chữ Hán. Có người đỗ như Đầu xứ Thái hoặc Đầu xứ Đồng Khánh ở làng Trản Nội xã Kiều Mộc.

Thời Pháp thuộc từ năm 1927 tại thôn Kiều Viên xã Kiều Mộc có trường sơ học Pháp – Việt dạy chữ quốc ngữ và chữ Pháp, trường mở đến lớp Ba (tương đương lớp Ba hiện nay). Trường Kiều Mộc do thầy giáo Trần Hưng, quê xã Trường Sơn, huyện Đức Thọ làm Hiệu trưởng cùng với thầy giáo Hồ Khắc Xương ở Đại Nài và một thầy giáp khác (chưa rõ tên) giảng dạy. Thầy giáo Trần Hưng có công lớn trong việc vận động thành lập cơ sở Đảng ở hai tổng Hạ Nhất và Hạ Nhị, trong đó có chi bộ Phong Phú và chi bộ Kiều Mộc. Cần nói thêm  vài nét về thầy giáo Trần Hưng: Thầy quê ở Đức Thọ về dạy học ở Kiều Mộc từ năm 1927.

Ngày 24/2/1930 Phân cục Trung ương lâm thời Trung Kỳ ra Nghị quyết thành lập các Tỉnh Đảng bộ do xứ ủy phụ trách. Thầy giáo Trần Hưng được xứ ủy chỉ định ở trong Ban chấp hành lâm thời Tỉnh ủy Hà Tĩnh gồm 6 đồng chí là Nguyễn Trung Thiên (tức Trần Hữu Thiều) Bí thư, Võ Quê, Trần Hưng, Mai Kính, Hồ Tuy, Trần Xu.

Sau đó thầy Hưng được bổ sung vào xứ ủy Trung kỳ. Thầy bỏ dạy làm nghề buôn nước mắm đi khắp hai huyện Cẩm Xuyên và Thạch Hà để dễ bề hoạt động cách mạng. Thực dân Pháp nghi ngờ và theo dõi thầy rất nghiêm ngặt. Năm 1931 nhân vụ tên Cai Ky và Tổng Luông bị cách mạng trừng trị trong phong trào Xô – Viết, thực dân Pháp nghi cho thầy cầm đầu vụ này, nên chúng đã bắt và xử tử hình thầy vào năm 1931. Thầy bị chúng bắn ở Rú Đòi (nay thuộc xã Thạch Sơn).

Thầy giáo Hồ Khắc Xương, tuy không phải là đảng viên cộng sản nhưng là một hương sư có lòng yêu nước đã cùng với thầy giáo Trần Hưng vừa dạy chữ vừa giáo dục lòng yêu nước cho lớp học trò trường Sơ học Kiều Mộc thuở ấy. Sau này lớp học trò của hai thầy Trần Hưng và Hồ Khắc Xương phần lớn đều là cán bộ chủ chốt của Đảng ở Tứ Linh và Liên Anh.

Khoảng năm 1940-1941 thầy giáo Hồ Khắc Xương từ Đại Nài về thăm Kiều Viên, bâng khuâng ngậm ngùi nhớ cảnh cũ người xưa cảm tác làm thơ, trong đó có mấy câu:

“Từ ngày thôi dạy chốn Kiều Viên

Mười mấy năm rồi lại thấy Tiên

Cá nước Hiêu Khê chào bạn cũ

Cây rừng Quỳnh lĩnh đón người quen…”

Như vậy trước cách mạng 1945 Kiều Mộc – Đình Hòe – Đạm Thủy, trong đó có xã Thạch Đỉnh ngày nay, là một vùng đất học khá sôi nổi, có thể sánh với các làng xã trong hai tổng Hạ Nhất và Hạ Nhị huyện Thạch Hà.

Xã Đình Hòe mà lãnh thổ phần lớn hiện nay thuộc xã Thạch Đỉnh có nghề nề truyền thống nổi tiếng. Thợ nề Đình Hòe đã tham gia xây dựng Võ Miếu ở Thành phố Hà Tĩnh, ở đó còn tấm bia đá ghi rõ:

“Thái Yên mộc tượng.

Đình Hòe nề công”.

Đình Hòe là một đơn vị hành chính biệt triện trong số 7 làng xã của tổng Hạ Nhị, phủ Thạch Hà trước cách mạng tháng 8-1945 gồm Phong Phú, Như Sơn, Đan Trản, Dương luật, Đạm Thủy, Kiều Mộc, Đình Hòe. Ngày nay tên hành chính Đình Hòe đã bị xóa nhưng lãnh thổ của nó còn nguyên vẹn gồm thôn Tây Sơn của xã Thạch Đỉnh và thôn Vĩnh Tiến của xã Thạch Bàn.

Trước đây Đình Hòe từng nổi tiếng có nhiều thợ nề tài giỏi, có lẽ còn nổi tiếng hơn cả thợ nề Thanh Lạng (Đức Thọ). Mặc dầu tên hành chính Đình Hòe đã bị xóa từ năm 1945 sau ngày cách mạng tháng 8 thành công đến nay đã gần 70 năm nhưng dấu ấn về một làng nề Đình Hòe nổi tiếng còn in đậm trong mọi thế hệ người dân trong khắp cả huyện Thạch Hà, cả tỉnh Hà Tĩnh.

Gọi là làng nề Đình Hòe vì hơn một nửa số dân ở đây đều làm nghề nề và dựa vào nghề nề làm nguồn sống chính. Ruộng đất ít, nghề nông không đủ sinh sống nên dân Đình Hòe phải tìm các nghề làm ăn khác như làm đá, bốc vác, làm muối v.v… và phần lớn là làm nghề thợ nề.

Nghề nề Đình Hòe có từ bao giờ? Ai đã đưa nghề nề vào Đình Hòe?

Đó là những câu hỏi thật khó trả lời vì chưa tìm thấy một nguồn tư liệu nào đáng tin cậy. Gia phổ mới lập gần đây không hề nói đến nghề nề và những việc liên quan đến nghề nề. Không có đền thờ tổ sư nghề nề. Còn như dựa vào lời truyền miệng trong dân gian thì mỗi người nói mỗi cách, không có cơ sở, càng không thể tin cậy.

Các công trình kiến trúc cổ ở vùng tổng Hạ Nhị, Hạ Nhất xưa được xây bằng đá ong như đền thờ vọng Chiêu Trưng ở Dương Luật, đền quan Đại Khoa (Nguyễn Tôn Tây) ở Phong Phú, chùa Tran ở Phong Phú, đền Voi Quỳ ở Kiều Mộc, đền Đức Thánh Tương Bình ở Kiều Mộc, đền quan Nghè (thờ Nguyễn Văn Suyền) ở Chỉ Châu, đền Đài Hai thờ Nhị Lang Long vương ở Chỉ Châu, đền Tam Lang ở Chỉ Châu cùng các đền chùa miếu mão, nhà sắc ở các làng xã khắp hai tổng hạ Nhất và Hạ Nhị của huyện Thạch Hà xưa, phần lớn đều do thợ nề Đình Hòe xây dựng trong khoảng nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa sau thế kỷ 19. Điều đó có thể nghĩ rằng nghề nề Đình Hòe đã phát triển mạnh tại địa phương này từ cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19.

Không chỉ xây đền chùa miếu mão ở trong hai tổng Hạ Nhất, Hạ Nhị, huyện Thạch Hà, mà thợ nề Đình Hòe còn xây dựng các công trình khác ở thành phố Hà Tĩnh (tỉnh lỵ Hà Tĩnh) như xây Võ Miếu, xây chùa Phật học.

Làng nề Đình Hòe đã đào tạo nên nhiều tay thợ tài hoa, họ vừa là thợ, vừa là nghệ nhân điêu khắc kiến trúc nổi tiếng như cố Uyển, cố Y, cố Ái sống và hành nghề từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, cố Đồng Thiện sống và hành nghề nửa sau thế kỷ 20. Nổi tiếng không phải vì họ là thợ xây bình thường vì thợ xây tường, trát vữa đã có lớp thợ “chung” đảm nhiệm mà nổi tiếng ở chỗ họ thật sự là những nghệ nhân tài hoa trong việc trang trí hoa văn, đắp nổi các bức phù điêu cực kỳ tình xảo ở các đền chùa miếu mão, nhà thờ họ tộc.

Ngày nay nghề nề Đình Hòe vẫn phát triển mạnh chứ không bị mai một như một số nghề thủ công khác. Các công trình kiến trúc, nhà thờ họ, tu bổ, nâng cấp các khu di tích văn hóa, đền chùa, miếu mão thì phải cần đến thợ nề Đình Hòe vì thợ nề các địa phương khác chưa có đủ trình độ kỹ thuật và mĩ thuật như thợ nề Đình Hòe.

Ngoài nghề nề, địa phương này có nghề khai thác đá từ lâu đời. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Thạch Đỉnh đã cung cấp cho tỉnh, cho huyện hàng nghìn khối đá để tu bổ đê đập kè cống,các công trình kiếm trúc khác.

Nhân dân Kiều Mộc – Đình Hòe – Đạm Thủy mà phần lớn lãnh thổ hiện nay thuộc xã Thạch Đỉnh có truyền thống yêu nước sâu sắc.

Thế kỷ 18 tại vùng tổng Hạ Nhất, Hạ Nhị có hai vị tướng giỏi của phong trào Tây Sơn được vua Quang trung rất quý trọng. Đó là Đô đốc Hồ Phì Chấn ở giáp Trung Thủy, làng Ngu Xá (nay là Thạch Văn) và Nguyễn Thận ở Đình Hòe.

Nguyễn Thận lập công lớn trong các trận đánh trên đường quân Tây Sơn tiến ra Bắc đại phá giặc Thanh năm Kỷ Dậu (1789). Nguyễn Thận đã tham gia trận quyết chiến chiến lược Ngọc Hồi - Đống Đa được vua Quang Trung rất trọng dụng. Sau chiến thắng, vua Quang Trung giao cho ông làm Tổng trấn Nghệ An, là một doanh trấn cực kỳ quan trọng ở đất Bắc Hà lúc bấy giờ. Nghệ An lại là quê gốc tổ của vua Quang Trung nên Nghệ An có tầm quan trọng đặc biệt đối với triều đại Tây Sơn. Với sự tin tưởng tuyệt đối vào tài năng và lòng trung thành của Nguyễn Thận đối với triều đại Tây Sơn nên vua Quang Trung lại ủy thác cho Nguyễn Thận cùng với La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp chọn đất đóng đô ở Phù Thạch trên đất Nghệ An (nay là địa điểm Phượng Hoàng Trung Đô ỏ Vinh). Đáng tiếc việc chưa hoàn thành thì triều Tây Sơn đã sụp đổ (1802).

Những người cộng sự với Tây Sơn lần lượt bị bắt. Nguyễn Thận bị quan quân Nguyễn Ánh bắt trên đường trốn sang Lào. Nguyễn Thận cùng với các tướng Tây Sơn như Trần Quang Diệu, Vũ Văn Dũng, Bùi Thị Xuân v.v… bị đưa về Phú Xuân và bị giết rất tàn nhẫn.

Không rõ hiện nay họ Nguyễn nào ở Đình Hòe là dòng họ của tướng Tây Sơn Nguyễn Thận?

Năm 1930, cùng với Chi bộ Phong Phú, tại Kiều Mộc, Chi bộ Đảng cũng được thành lập đã lành đạo nhân dân Kiều Mộc - Đình Hòe – Đạm Thủy vùng lên đấu tranh trong phong trào Xô-Viết 1930-1931 cho đến ngày cách mạng tháng 8 thành công năm 1945.

Con người Kiều Mộc – Đình Hòe – Đạm Thủy (nay một phần lớn thuộc xã Thạch Đỉnh) nhân ái, kiên cường, giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Truyền thống ấy được phát huy cao độ trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ quê hương ngày nay nhằm đưa Thạch Đỉnh trở thành một xã giàu mạnh và văn mình.